RHB

Bộ phận Nghiên cứu – Phân tích VCBS vừa công bố Báo cáo kinh tế Vĩ mô Quý III/2015. Theo VCBS, thị trường ngoại hối biến động mạnh quý III và sau đó ổn định dần trở lại. Kỳ vọng tỷ giá sẽ không điều chỉnh thêm trong 2015

Trong Quý III, tỷ giá và thị trường ngoại hối đã ghi nhận biến động mạnh do chịu tác động từ những yếu tố trên thế giới, đặc biệt là từ Trung Quốc. Cụ thể, nhằm ứng biến trước động thái Trung Quốc bất ngờ thay đổi chính sách điều hành tỷ giá đi cùng với diễn biến liên tục lao dốc của đồng Nhân dân tệ (CNY), vào giữa tháng 8, NHNN quyết định tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng thêm 1% lên mức 21.890 VND/USD và nới rộng biên độ lên 3%. Sau diễn biến này, tỷ giá và thị trường ngoại hối vẫn tiếp tục nóng lên.

Đến cuối tháng 9, đầu tháng 10, sức nóng của thị trường mới thực sự suy giảm sau khi thị trường đón nhận những thông tin và diễn biến mới trên thế giới đi cùng với những động thái và biện pháp nhất quán của NHNN để can thiệp nhằm bình ổn thị trường.

Trước tiên phải kể đến hai sự kiện lớn trên thế giới đã xoa dịu và đẩy lùi đáng kể rủi ro tỷ giá: FED quyết định chưa nâng lãi suất trong tháng 9 và đàm phán TPP chính thức kết thúc mở ra kỳ vọng Việt Nam sẽ là tâm điểm thu hút dòng vốn đầu tư mạnh mẽ trong dài hạn. Song song với đó, những biện pháp can thiệp của NHNN cũng phát huy tác dụng như hạ lãi suất huy động USD (giúp cải thiện tính hấp dẫn của VND so với USD) và ban hành Thông tư số 15/2015/TT-NHNN.

Thông tư 15 quy định khá chặt chẽ việc mua - bán ngoại tệ giao ngay chỉ được thực hiện khi khách hàng có nhu cầu và chứng minh được nhu cầu thanh toán trong phạm vi 2 ngày làm việc. Trong trường hợp từ 3 ngày trở lên, giao dịch phải thông qua phương thức kỳ hạn nhưng tỷ giá kỳ hạn không được vượt quá mức tỷ giá được xác định dựa trên tỷ giá giao ngay vào ngày giao dịch; chênh lệch giữa lãi suất tái cấp vốn do NHNN công bố và lãi suất mục tiêu USD của FED và kỳ hạn giao dịch. Việc siết chặt hơn quy định về giao dịch ngoại tệ giúp hạn chế hiện tượng đầu cơ hoặc mua và găm giữ USD trước khi nhu cầu thanh toán phát sinh, từ đó giảm bớt áp lực cầu ngoại tệ.

Xét riêng các yếu tố trong nước, VCBS không nhìn thấy yếu tố rõ ràng nào có thể gây áp lực lớn cho tỷ giá từ nay đến hết 2015.Theo yếu tố mùa vụ, cầu ngoại tệ có thể tăng lên để đáp ứng nhu cầu thanh toán và sản xuất cho các đơn hàng vào dịp cuối năm.

Tuy nhiên ở chiều ngược lại, vốn FDI giải ngân và kiều hối được kỳ vọng sẽ tiếp tục duy trì xu hướng tăng tích cực (trong 9 tháng đầu năm, tổng vốn FDI giải ngân đạt 9,7 tỷ USD (+8,4%); kiều hối năm 2015 dự báo sẽ đạt khoảng 13 - 14 tỷ USD, tăng khoảng 10% so với 2014). Ngoài ra, thâm hụt thương mại 2015 cũng được kỳ vọng sẽ không quá đột biến (khoảng 4 – 4,5 tỷ USD và tác động của thâm hụt thương mại đã phản ánh nhiều trong diễn biến tỷ giá 9 tháng đầu năm).

Như vậy, trong thời gian tới, VCBS duy trì đánh giá, diễn biến trên thị trường thế giới sẽ là những yếu tố chính ảnh hưởng lên tỷ giá và thị trường ngoại hối trong nước, trong đó tâm điểm là (1) khả năng tiếp tục mất giá của đồng CNY và (2) thời điểm bắt đầu và lộ trình nâng lãi suất của FED.

VCBS kỳ vọng vào một diễn biến dao động hẹp của đồng CNY trong Quý IV với cơ sở là nỗ lực bình ổn thị trường từ phía PBOC sau những biến động mạnh hồi tháng 8.

Trong khi đó, trên thị trường Mỹ, theo biên bản họp của FED, tổ chức này cũng đang tỏ ra quan ngại những diễn biến xấu trên thị trường thế giới, đặc biệt là các vấn đề xung quanh nền kinh tế Trung Quốc, có thể ảnh hưởng tiêu cực đến đà phục hồi của nền kinh tế Mỹ. Theo đó, VCBS cho rằng thời điểm nâng lãi suất của FED sớm nhất cũng phải đến cuối năm nay (tháng 12).

Với giả định kinh tế thế giới không xảy ra những cú sốc lớn nằm ngoài dự đoán, tỷ giá có thể sẽ không điều chỉnh thêm trong năm 2015. Tuy nhiên, VCBS cũng đánh giá rủi ro tỷ giá sẽ tiếp tục là vấn đề cần cân nhắc trong năm 2016.
Nguồn : ndh.vn

Tiền vào thị trường hẻo lánh. Thanh khoản sụt giảm xuống mức rất thấp. Tổng khối lượng giao dịch toàn sàn đạt 1.801.774 đơn vị, tương ứng với giá trị giao dịch là 15,48 tỷ đồng.

Thống kê tại thời điểm đóng cửa, toàn sàn có 131 mã tham gia giao dịch, trong đó có 60 mã tăng giá, 28 mã đứng giá và có 43 mã giảm giá.

Tăng hết biên độ 15%, HFC trở thành cổ phiếu có mức tăng mạnh nhất sàn, tăng trần 2.400 đồng, giá đóng cửa lên mức 18.400 đồng/cổ phiếu, khối lượng khớp lệnh thành công lẹt đẹt, chỉ đạt 100 đơn vị.

Chiều ngược lại, VNI là cổ phiếu có mức giảm mạnh nhất, giảm sàn 600 đồng (tương đương 14,63%), giá đóng cửa lùi xuống còn 3.500 đồng/cổ phiếu, khối lượng khớp lệnh thành công khá cao, đạt 6.800 đơn vị. 

Với 996,400 cổ phiếu được chuyển nhượng thành công, MTM bảo toàn vị trí dẫn đầu về thanh khoản toàn sàn. MSR tiếp tục đứng thứ hai, đạt 209.300 cổ phiếu. Kế tiếp là VLC đạt 142.100 cổ phiếu, GEX đạt 110.000 cổ phiếu, SSN đạt 106.600 cổ phiếu...

Hôm nay, các nhà đầu tư nước ngoài chỉ thực hiện mua vào 56.000 cổ phiếu ABI, 19.900 cổ phiếu AGP, 16.000 cổ phiếu GEX, 9.800 cổ phiếu UDJ, 3.400 cổ phiếu NCS, 1.600 cổ phiếu ADP, 800 cổ phiếu DTC, 800 cổ phiếu MTH, 100 cổ phiếu SGN. Chiều ngược lại, họ bán ra 6.200 cổ phiếu VLC, 1.000 cổ phiếu GEX, 75 cổ phiếu VFC.

Tổng khối lượng giao dịch toàn sàn đạt 141.468.684 đơn vị, tương đương giá trị giao dịch là 2.483,55 tỷ đồng.

Giao dịch suy yếu. Cầu tỏ ra thận trọng trong bối cảnh áp lực bán có phần lấn lướt. VN-Index giảm điểm trong phần lớn thời gian của ngày giao dịch mà không kiến tạo được một nhịp hồi phục nào đáng kể. Thời điểm điều chỉnh sâu nhất, chỉ số thậm chí đã bị kéo lùi về gần mức 618 điểm.

Không có nhóm cổ phiếu dẫn dắt, trụ cột hoạt động mờ nhạt chính là nguyên nhân khiến VN-Index đuối sức, tiếp tục giảm đỏ và đánh mất ngưỡng hỗ trợ 620 điểm.

Toàn sàn có 103 mã tăng giá, 70 mã đứng giá và 118 mã giảm giá.

Nhóm cổ phiếu dầu khí tiếp tục có thêm phiên giao dịch đỏ lửa, trong đó PVD giảm 900 đồng, GAS giảm 500 đồng, PET giảm 400 đồng...

Áp lực bán cũng khiến nhóm cổ phiếu ngân hàng bị suy yếu về cuối phiên. Đóng cửa: chỉ MBB và EIB tăng nhẹ; các mã còn lại đều mất điểm: VCB giảm 900 đồng, BID giảm 400 đồng, CTG và STB cùng giảm 200 đồng.

Ngoài ra, MSN giảm 1.500 đồng, KBC và SSI cùng giảm 100 đồng.

Hết sóng, HAG quay đầu giảm 100 đồng trong khi HNG gắng gượng đóng cửa trong sắc xanh nhẹ với mức tăng 100 đồng.

Nhiều cổ phiếu thép có sự khởi sắc, nổi bật là DTL tăng trần 700 đồng, TLH tăng trần 500 đồng, HSG tăng 400 đồng, VIS tăng 300 đồng...

HAG vươn lên dẫn đầu sàn về thanh khoản với hơn 11,2 triệu cổ phiếu được chuyển nhượng thành công. Tiếp đó là TSC đạt hơn 9,1 triệu cổ phiếu; HNG đạt hơn 6,4 triệu cổ phiếu; MBB đạt hơn 5,6 triệu cổ phiếu; FLC đạt hơn 5,0 triệu cổ phiếu...

Lãi suất huy động đang đẩy lên

So với cuối năm 2015, mặt bằng lãi suất huy động của các NHTM đã tăng khá cao và mức độ cạnh tranh ngày càng lớn. Ở nhóm NHTM có vốn nhà nước, lãi suất kỳ hạn ngắn đã gần chạm trần, trong khi kỳ hạn dài hiện được niêm yết ở mức 6%/năm trở lên. Tại Vietcombank, kỳ hạn trên 12 tháng áp dụng lãi suất 6,5%/năm, BIDV áp dụng lãi suất 6,9%/năm, các kỳ hạn 12, 13, 18 tháng đến 36 tháng lên đến 7,2%/năm.

Nhiều NH hiện nay đẩy mạnh hoạt động tín dụng tiêu dùng để bù đắp lại khoản lợi nhuận bị hụt từ tín dụng doanh nghiệp sụt giảm. Đó cũng là lý do tại sao nhiều NH đang tìm kiếm mua hoặc có ý định thành lập CTTC để đẩy mạnh lĩnh vực này.

Theo tìm hiểu của ĐTTC, hiện nay cuộc đua lãi suất đang rất nóng ở nhóm NHTMCP, ở kỳ hạn ngắn lãi suất nhiều NH xoay quanh trần 5,5%/năm, trong khi ở kỳ hạn dài đa số áp dụng từ 6,5-8%/năm. Tại ACB, tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 12-36 tháng trong mức từ 6,2-6,8%/năm. Còn tại VPBank, mức lãi suất tiền gửi cao nhất đạt 7,4%/năm đối với kỳ hạn 36 tháng áp dụng khoản tiết kiệm từ 5 đến dưới 10 tỷ đồng. Tương tự, SHB đang tính mức cao nhất 7,3%/năm đối với khoản tiền gửi trên 2 tỷ đồng ở kỳ hạn 24 và 36 tháng. Nổi trội nhất là tại TPBank áp dụng mức lãi suất cho kỳ hạn 36 tháng lên đến 7,8%/năm lĩnh lãi cuối kỳ. Đáng chú ý, nếu gửi tiền theo sản phẩm tiết kiệm Tài Lộc với các kỳ hạn dài 15, 18, 24 và 36 tháng, khách hàng được hưởng lãi suất cao nhất tới 8,4%/năm. Vietbank có sản phẩm tiết kiệm lãi suất thả nổi và lợi nhuận tối ưu, theo đó gửi kỳ hạn 6 tháng được hưởng lãi suất 6,6% và biên độ 0,3%/năm, kỳ hạn 13 tháng lãi suất 7,2%/năm và 15 tháng là 7,3%, biên độ 0,4%/năm. Ngoài ra, khách hàng không rút trước một phần vốn được cộng thêm 0,2%/năm, khi tái tục gửi tiền, lãi suất được tính bằng lãi suất sản phẩm tại kỳ tái tục cộng thêm 0,1%/năm.

 Trong vai người gửi tiền, ĐTTC được nhân viên của NCB tư vấn nên chọn gửi kỳ hạn 13 tháng, kỳ hạn không quá dài nhưng lãi suất lên đến 7,4%/năm. Tương tự, nhân viên Kienlongbank cũng tư vấn nên gửi kỳ hạn 13 tháng với lãi suất 7,1%/năm, đây là mức lãi suất cao nhất trong biểu lãi suất của NH này. Sau thông điệp của NHNN tại văn bản chấn chỉnh việc thực hiện quy định lãi suất huy động đầu tháng 5-2016, các chương trình tiết kiệm của các NH khá im ắng. Tuy nhiên, các NH vẫn có nhiều cách để gia tăng ưu đãi, lôi kéo khách hàng. Chẳng hạn như đối với khách hàng gửi trực tuyến, NH sẽ cộng thêm lãi suất từ 0,1-03%/năm. Tuy nhiên, nhân viên của một số nhà băng cũng chia sẻ, khách hàng nên đến gửi trực tiếp tại quầy để được hưởng những chương trình ưu đãi dành cho những khoản tiết kiệm lớn. Trong đó, một số NH cho biết sẵn sàng thỏa thuận với khách hàng, nếu gửi kỳ hạn dưới 6 tháng sẽ bị vướng trần lãi suất 5,5%/năm, để lách lãi suất chỉ cần làm hợp đồng tiền gửi trên 6 tháng để áp dụng mức lãi suất cao hơn nhưng trong hợp đồng có điều khoản thỏa thuận người gửi tiền rút trước thời hạn 6 tháng sẽ vẫn được hưởng lãi suất theo hợp đồng thay vì phải chịu lãi suất không kỳ hạn. Nhiều NH cũng giới thiệu tiết kiệm trả lãi trước, tiết kiệm lãnh lãi đầu kỳ như NCB, Kienlongbank, Saigonbank, BaoVietBank, VPBank, Techcombank… Với hàng loạt giải pháp hút vốn của các NHTM, nguồn vốn huy động trong quý I-2016 tăng đến 8,5% so với đầu năm, đạt 42.865 tỷ đồng. 

Áp lực huy động vốn

Theo các chuyên gia kinh tế, lãi suất huy động của các NH liên tục được điều chỉnh tăng do nhiều tác động. Cụ thể, dự thảo sửa đổi Thông tư 36 quy định tỷ lệ huy động vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 60% giảm về 40%. Hiện nay, tỷ lệ này tại các NHTM có vốn nhà nước 33,91% và tại NHTMCP 35,58%. Nguồn vốn để cho vay dài hạn không còn nhiều nên các NH chạy đua tăng lãi suất để gia tăng nguồn vốn, đảm bảo tăng trưởng tín dụng. Theo các NHTM, giải pháp xử lý đối với vấn đề này là phải gia tăng vốn huy động dài hạn và giảm bớt tỷ lệ cho vay trung, dài hạn bằng vốn ngắn hạn.

Theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu, các NH đang đứng trước áp lực đảm bảo thanh khoản nên buộc phải tăng lãi suất huy động. Hơn nữa, nhu cầu vay vốn đang tăng cao nên nhiều NH tính đến phương án điều chỉnh tăng lãi suất huy động để gia tăng nguồn vốn. Trong báo cáo tình hình kinh tế tháng 4 và 4 tháng đầu năm, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia cũng nhận định trong tháng 4 thanh khoản có dấu hiệu chịu áp lực, đẩy lãi suất liên NH tăng 1% trong tuần đầu tháng 4 tại tất cả các kỳ hạn. Nguyên nhân xuất phát từ nhóm các NHTM có tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động và tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn cao hơn mức dự kiến điều chỉnh Thông tư 36. Mặt khác, lãi suất liên NH thời gian qua tăng chủ yếu do áp lực từ tăng lãi suất huy động trên thị trường 1, bởi các NH đang tăng dự trữ vốn phục vụ cho nhu cầu tín dụng tăng cao hơn trong quý II. Ngoài ra, đại diện một NHTMCP chia sẻ gần đây các NHTM tăng mạnh lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12, 13 tháng nhằm đánh vào lãi suất cho vay đối với những khách hàng cá nhân vay tiêu dùng, vay mua nhà, mua xe vì các khoản vay này ưu đãi lãi suất từ 6 hoặc 12 tháng, sau thời hạn đó lãi suất được tính bằng lãi suất huy động 12 hoặc 13 tháng, cộng thêm biên độ 3-5%/năm.

Bên cạnh đó, đợt tăng lãi suất huy động đồng loạt của các NHTM từ đầu năm đến nay do cuối năm 2015 dòng vốn của NH đầu tư đổ mạnh kênh TPCP nên phải hút vốn để bù lại. Năm 2016, kế hoạch phát hành TPCP là 220.000 tỷ đồng cũng đã tạo áp lực huy động vốn đối với các TCTD, vì đặc thù của thị trường TPCP là trên 80% do các TCTD nắm giữ. Theo công bố của Bộ Tài chính, tính đến ngày 6-5 Việt Nam đã thực hiện phát hành được gần 111.791 tỷ đồng TPCP bù đắp bội chi ngân sách nhà nước và cho đầu tư phát triển, đạt xấp xỉ 50,8% nhiệm vụ huy động vốn trong nước năm 2016. Để tiếp tục thực hiện phần còn lại, các NHTM chắc chắn phải tiếp tục tăng cường huy động để hoàn thành kế hoạch và sẽ tạo ra áp lực đối với lãi suất.

Ngoài ra, lãi suất cho vay tiêu dùng hiện nay khá cao và ngày càng nhiều NH đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng, nên các NH chấp nhận huy động với lãi suất cao hơn để phục vụ hoạt động này. Chẳng hạn VPBank đang sở hữu cổ phần Công ty Tài chính (CTTC) FE Credit. Năm 2015, FE Credit có hơn 2 triệu khách hàng tại Việt Nam. Đây được xem là CTTC đang dẫn đầu thị trường về cho vay tiêu dùng hiện nay. Theo báo cáo tài chính của VPBank, lĩnh vực cho vay tiêu dùng đã mang đến cho NH này gần 1.000 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế năm 2015. Tổng dư nợ tín dụng năm 2015 của VPBank đạt 116.804 tỷ đồng cho vay khách hàng, tăng 38.425 tỷ đồng so với năm 2015, trong đó cho vay khách hàng cá nhân đóng góp 25.925 tỷ đồng. Theo kế hoạch, VPBank dự kiến cho vay khách hàng năm 2016 sẽ tăng hơn 30%.

Thêm vốn để tăng tín dụng, giảm nợ xấu

Việc không ít NH tư vấn cho khách hàng lách trần lãi suất huy động đối với kỳ hạn ngắn để được hưởng lãi suất cao hơn theo quy định như trong thời gian vừa qua cho thấy nhu cầu vốn của NH vẫn rất lớn. Thông thường nhu cầu vốn của một NH tăng do phải đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng hay để củng cố tình hình tài chính của mình, hoặc cả 2 mục tiêu này. Năm 2015, tổng tăng trưởng tín dụng đạt gần 18%, đây là mức khá cao so với những năm trước. Tuy nhiên, tăng trưởng huy động lại thấp hơn con số này và điều này cũng đồng nghĩa các chỉ số về an toàn vốn của NH giảm. Năm 2016, NHNN đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng đạt 18-20%, tuy nhiên tăng trưởng huy động dự báo tiếp tục ở mức thấp hơn con số này. Độ lệch pha cung cầu cho thấy cuộc đua huy động vốn càng trở nên khốc liệt.

Đến nay số liệu tăng trưởng tín dụng cả nước đầu năm 2016 chưa được công bố, nhưng số liệu tại TPHCM rất khả quan với 4 tháng đầu năm đạt 3,2%, so với âm 0,8% cùng kỳ năm ngoái; tại Hà Nội cũng khá tích cực với tăng trưởng 4,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Việc tăng trưởng tín dụng của NH ngoài mục tiêu thông thường là mở rộng quy mô và tìm kiếm thêm lợi nhuận, cũng nhằm mục đích làm giảm tỷ lệ nợ xấu. NH cần các nguồn vốn mới để tái hỗ trợ doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp phục hồi sản xuất. Điều này có thể thấy rõ trên thị trường bất động sản, thời gian qua rất nhiều NH đã tài trợ trở lại cho nhiều dự án đã đắp chiếu nhiều năm. Bên cạnh đó, khi tín dụng tăng mà nợ xấu tăng chậm hơn sẽ làm tỷ lệ nợ xấu giảm.

Nỗi lo ngại về một cuộc cạnh tranh lãi suất giữa các ngân hàng đã quay trở lại khi đầu tháng 3 vừa qua, hầu hết các ngân hàng đã cập nhật biểu lãi suất mới nhất trên website chính thức của mình. Trong đó, ấn tượng nhất là mốc 8%/năm đã bị phá vỡ bởi Eximbank hay OCB. Mặc dù chưa phải là mức cao nhất thị trường, song 2 ngân hàng này lại khá mạnh dạn trong việc tăng lãi suất.

Thực ra, chuyện ngân hàng thay đổi mức lãi suất là bình thường, song việc đồng loạt nâng lãi suất ở kỳ hạn dài lẫn kỳ hạn ngắn phải chăng cho thấy các ngân hàng đang khát vốn hay mang đến những tín hiệu nào khác cho thị trường?

Ngân hàng treo cá gỗ

Ngân hàng treo cá gỗ muốn nói đến những ngân hàng treo lãi suất ở mức rất hấp dẫn mà người gửi lại khó lòng chạm đến bởi những hạn chế riêng. Và đó dường như là điều đang diễn ra. Chẳng hạn như Sacombank treo lãi suất 7,55% cho các khoản tiền gửi trên 500 tỉ đồng, Eximbank thì có vẻ thoải mái hơn khi giới hạn con số 10 tỉ đồng, nhưng liệu có ai chấp nhận gửi một số tiền lớn ở kỳ hạn 13 tháng sau?

Cái khó của ngân hàng hiện nay là người đi vay muốn vay dài hạn, trong khi người gửi chỉ muốn gửi kỳ hạn ngắn. Trên thực tế, tiền gửi dài hạn chiếm tỉ trọng thấp trong cơ cấu tiền gửi của ngân hàng.

“OCB đang có động thái đi trước để tương lai 1 trong 2 năm nữa phải điều chỉnh lại cơ cấu này”, ông Nguyễn Thanh Tùng, Tổng Giám đốc OCB, cho biết. Đại diện Eximbank cũng cho biết ngân hàng này đang muốn thay đổi điều đó và đang thăm dò phản ứng của người gửi tiền. Ở góc độ khác, thị trường Việt Nam đã quá quen thuộc với việc gửi tiền ngắn hạn. Trong khi đó, các ngân hàng cũng cần những khoản tiền gửi lớn để tài trợ cho các dự án trung và dài hạn, vốn chiếm tỉ trọng cao.

Thị trường hiện nay khá căng thẳng khi tín dụng trung, dài hạn tăng nhanh, liên tục và chiếm tỉ trọng cao trong tổng dư nợ, làm tăng rủi ro mất cân đối về kỳ hạn nguồn vốn và sử dụng vốn. Sự căng thẳng này đã buộc Ngân hàng Nhà nước phải đứng ra giải thích. “Việc gia tăng đầu tư tín dụng trung, dài hạn có thể tạo áp lực lên huy động vốn trung, dài hạn cũng như mặt bằng lãi suất trên thị trường”, báo cáo của Ngân hàng Nhà nước viết.

Cũng có ý kiến cho rằng nguyên nhân chính dẫn đến quyết định tăng lãi suất ở các kỳ hạn dài của ngân hàng là nhằm chuẩn bị trước cho áp lực sửa đổi Thông tư 36, hiện đang có dự thảo là giảm tỉ lệ vốn cho vay trung và dài hạn trên tổng vốn ngắn hạn giảm từ mức 60% về 40%. Song có lẽ đây chưa phải là vấn đề mà các ngân hàng thực sự lo ngại, vì tỉ lệ này mới chỉ ở mức 31%, thấp hơn nhiều so với con số tiêu chuẩn đưa ra, theo chuyên gia tài chính ngân hàng Cấn Văn Lực.

Thanh khoản vẫn ổn định

Đợt tăng lãi suất này không chỉ tập trung ở các kỳ hạn trên 12 tháng, mà lãi suất ở các kỳ hạn ngắn cũng đang có tín hiệu nhích lên so với thời điểm này hồi năm ngoái. Theo đó, nhiều ngân hàng có quy mô tài sản nhỏ đã tăng mức lãi suất lên sát mốc 5,5%, là mức trần lãi suất mà Ngân hàng Nhà nước hiện quy định. Trong số này có Ngân hàng Quốc Dân, Nam Á hay OCB.

Như vậy, lãi suất năm nay đã có tín hiệu biến động ngay từ thời điểm đầu năm, trái ngược với tình hình năm ngoái. Ví dụ như Techcombank, lãi suất kỳ hạn 6 tháng hồi đầu tháng 3 năm ngoái là 5%, còn bây giờ lên mức 5,58%. Tương tự ở Sacombank, lãi suất kỳ hạn 1 tháng đã tăng thêm 0,5 điểm phần trăm, lên mức 4,8%.

Tỉ trọng dư nợ trung và dài hạn trong tổng dư nợ

Liệu những diễn biến trên có phải là dấu hiệu cho thấy ngân hàng đang gặp sức ép về thanh khoản? Cho đến nay, chưa có dấu hiệu nào cho thấy thanh khoản của ngân hàng đang gặp vấn đề, thậm chí ngược lại. Lãi suất liên ngân hàng hiện vẫn thấp hơn đáng kể so với mức trung bình của 2 tháng trước đó, Công ty Chứng khoán BVSC nhận định. “Sau Tết, dòng tiền có xu hướng quay trở lại hệ thống, giúp thanh khoản của các ngân hàng ở mức dồi dào”, báo cáo của BVSC viết.

Còn ông Tùng thì cho rằng: “Nếu thanh khoản thực sự khó khăn, ngân hàng đã huy động kỳ hạn ngắn để tập trung xử lý”. Đây cũng là điểm khác biệt với cuộc chạy đua lãi suất trước đây.

Cuộc đua lãi suất lần này có thể hiểu đơn giản hơn là ngân hàng mong muốn vẽ lại đường cong lãi suất. Đường cong lãi suất là tập hợp các mức lãi suất ở kỳ hạn ngắn cho đến dài, theo nguyên tắc kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng lớn. Với lãi suất ở kỳ hạn dài tăng mạnh mẽ và lãi suất ở kỳ hạn ngắn tăng ít hơn, đường cong lãi suất nay có thể nói là đã cong hơn và dịch chuyển lên trên.

Theo nhận định của ông Tùng, trong tương lai, mặt bằng lãi suất vẫn nằm trong xu thế tăng. Ông cho rằng mức tăng này lại là tín hiệu tốt, vì nó tương ứng với sự điều chỉnh tích cực của nền kinh tế. Năm ngoái, nhiều ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tín dụng đáng kinh ngạc, lên đến 18% trong khi tốc độ tăng trưởng tiền gửi chỉ hơn 16,6%. Năm nay, Ngân hàng Nhà nước dự kiến điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng tín dụng lên cao hơn một chút (18-20%). Rõ ràng, đây cũng là một áp lực cho ngân hàng bắt đầu trữ dần vốn cho tương lai sắp đến.

Nguồn : nhipcaudautu.vn

Chi tăng nhanh Nghe có vẽ khập khiễng khi đem mức tăng trưởng thị giá cổ phiếu của CTCP Sữa Việt Nam (Vinamilk, mã VNM) – ai nắm giữ nó cũng mát lòng để so sánh với mức tăng bội chi ngân sách nhà nước – ai nghe cũng thấy mặn chát. Nhưng 10 năm qua, các doanh nghiệp như VNM đang tiến nhanh hơn đến việc kiểm soát chặt chi phí, chủ động quản lý chi phí để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, tích lũy để phục vụ quá trình tái đầu tư thì ngân sách Việt Nam phải đối mặt với tình trạng dù thu ngân sách tăng nhanh cũng không đuổi kịp mức tăng chi. 

Kết quả là những năm chi (chỉ tính tổng chi thường xuyên, chi đầu tư và chi trả nở) tăng nhanh hơn thu, bội chi NSNN sẽ vượt mức trần 5%GDP. Trong đó giai đoạn quyết toán 2006 – 2013, tăng chi thường xuyên giao động trong khoảng 17% -29%; tăng chi đầu tư biến động từ 1% - 52%.

Dĩ nhiên, chi tăng có thể được giải thích là nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển, cải cách, nhưng một thái cực khác cho thấy rằng ngân sách đang phải “gồng mình” trả nợ và kỷ luật tài khóa quá lỏng lẻo, năng lực dự báo, xây dựng kế hoạch ngân sách hạn chế khiến nó ngân sách khó thoát khỏi vòng lẩn quẩn nợ và bội chi ngân sách. 

Áp lực nợ và chi phí vay cao Những năm trở lại đây nợ công liên tục được giới nghiên cứu nhắc đến như một lời cảnh báo về khả năng vượt ngưỡng an toàn. Theo công bố mới nhất của Chính phủ dự nợ công của Việt Nam đã lên đến 2,7 triệu tỷ đồng tương đương khoảng 120 tỷ USD, tăng gấp 2 lần số dư năm 2011. Tuy nhiên, một thực tế khác bên trong con số nợ từ báo cáo ngân sách cho thấy chi phí vay nợ của Việt Nam tăng lên nhanh hơn từ năm 2011. Bởi chi phí trả lãi vay giai đoạn 2011 – 2015 tăng hàng năm khoảng từ 23,3% đến gần 34%/năm. Từ năm 2013 ngân sách sách phải trả lãi vay còn cao hơn cả trả nợ gốc. 

Mức thâm hụt ngân sách cao, nợ công tăng nhanh và dư nợ trên GDP cùng với việc Việt Nam “thoát khỏi” các nước nghèo, chi phí lãi vay chắc chắn sẽ còn tăng trong tương lai, đó là chưa tính đến khả năng chia nhỏ khoản vay để tránh sự kiểm soát của Quốc hội (nếu có) cũng có thể khiến Chính phủ phải chấp nhận một chi phí vay cao hơn mức bình thường. Với gánh nặng nợ nói trên, nếu Chính phủ không có cải cách một cách nghiêm túc trong chi tiêu và quản lý nguồn thu bội chi ngân sách sẽ tiếp tục tăng và ở mức cao là khó tránh.

TTCK Mỹ tăng mạnh: Trong phiên giao dịch ngày 11/3, thị trường chứng khoán Mỹ tăng mạnh khi nhà đầu tư tự tin vào các biện pháp kích thích thị trường từ Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) và giá dầu tăng cao sẽ giúp giá cổ phiếu năng lượng tăng theo. Chỉ số Công nghiệp Dow Jones tăng 1,28% lên 17.213,31 điểm. Chỉ số S&P 500 tăng 1,64% lên 2.022,19 điểm. Chỉ số Nasdaq Composite tăng 1,85% lên 4.748,47 điểm. Tính chung tuần qua, Dow Jones tăng 1,2%, S&P tăng 1,1% và Nasdaq tăng 0,7%.

TTCK châu Âu tăng vọt: Trong phiên giao dịch ngày 11/3, thị trường chứng khoán châu Âu tăng mạnh trở lại sau khi nhà đầu tư đánh giá tích cực gói kích thích kinh tế của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB). Chỉ số Stoxx Europe 600 của khu vực eurozone tăng 2,62% lên 342,23 điểm tại London, đưa mức tăng trong tuần lên 0,13%. Chỉ số FTSE 100 của Anh tăng 1,71% lên 6.139,79 điểm. Chỉ số DAX của Đức tăng 3,51% lên 9.831,13 điểm. Chỉ số CAC 40 của Pháp tăng 3,27%, chốt tại 4.492,79 điểm.

TTCK châu Á tăng nhẹ: Ngày 11/3, thị trường chứng khoán châu Á tiếp tục tăng điểm sau phiên giao dịch nhiều biến động sau khi các nhà đầu tư đánh giá tích cực gói kích thích mở rộng của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB). Chỉ số MSCI châu Á Thái Bình Dương tăng 0,94% lên 126,73 điểm tại Hong Kong, cao hơn so với phiên đóng cửa cuối tuần trước. Chỉ số Nikkei 225 của Nhật Bản tăng 0,51% lên 16.938,87 điểm. Chỉ số Hang Seng của Hong Kong tăng 1,08% lên 20.199,6 điểm. Chỉ số CSI 300 của Trung Quốc tăng 0,17% lên 3.018,28 điểm.

Giá vàng tiếp tục tăng mạnh: Ngày 11/3, giá vàng giao tháng 4/2016 trên sàn Comex của New York, Mỹ giảm 13,4 USD, tương đương giảm 1,1%, xuống 1.259,4 USD/ounce do đà tăng từ chứng khoán Mỹ, đồng USD cùng với giá dầu báo hiệu nhà đầu tư đang chuyển hướng sang các tài sản rủi ro cao. Cả tuần qua, giá vàng giảm 09%.

Giá dầu tăng mạnh trở lại: Ngày 11/3, giá dầu thô ngọt, nhẹ giao tháng 4/2016 tại thị trường New York, Mỹ tăng 66 cent, tương đương tăng 1,7%, lên 38,5 USD/thùng sau khi Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho rằng giá dầu đã chạm đáy khi nguồn cung dầu toàn cầu giảm trong bối cảnh sản lượng suy yếu và sự gián đoạn nguồn cung dầu từ Iraq, Nigeria và UAE đã khiến sản lượng dầu thô của OPEC giảm 90.000 thùng/ngày. Cả tuần qua, giá dầu tăng 7,2%, ghi nhận tuần tăng thứ 4 liên tiếp.

Rất nhiều thắc mắc được đặt ra với gói tín dụng ưu đãi này. Chuyên mục Trò chuyện Chủ nhật tuần này, PV đã có cuộc trò chuyện với TS Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính - ngân hàng xung quanh câu chuyện trên.

Thưa TS. Nguyễn Trí Hiếu, chúng ta đang nói tới việc người mua nhà vay tiền từ gói 30 nghìn tỷ sẽ không được hưởng lãi suất ưu đãi từ ngày 1- 6 tới đây. Theo ông, nó sẽ tác động thế nào đến người mua nhà và thị trường bất động sản thời gian tới?

Có một vấn đề theo tôi là khi cho ra đời gói 30 nghìn tỷ, lúc đó Ngân hàng Nhà nước phải giải thích cho các ngân hàng thương mại tham gia cách tính lãi suất ưu đãi liên quan thế nào đến chương trình tái cấp vốn. Thật sự ra như ngân hàng tôi đang cộng tác là VietBank tham gia vào cái gói đó nhưng cũng chỉ hiểu lơ mơ là chương trình đó sẽ chấm dứt vào ngày 31-5, lãi suất trong tương lai sẽ được điều chỉnh. Thế nhưng, cũng không ai rõ một cách chắc chắn là lãi suất ưu đãi sẽ chấm dứt vào ngày 31-5. Đấy là nói về phía ngân hàng.

Còn phía người dân, họ cứ ký vào cái hợp đồng tín dụng, thời hạn vay là 15 năm, lãi suất 5% là yên tâm. Bây giờ đùng một cái, nhất là những người thu nhập thấp, trước tình trạng lãi suất thương mại khoảng 10%, thì họ mất khả năng để trả nợ cho ngân hàng.

Điều này đang gây hoang mang. Từ cái hoang mang này sẽ ảnh hưởng đến vấn đề mua nhà của người dân, ảnh hưởng đến thị trường bất động sản. Cái ảnh hưởng lớn nhất là tâm lý hoang mang của dân chúng sẽ ảnh hưởng đến các gói tới của Chính phủ. Nếu Ngân hàng Nhà nước đưa ra một gói tới nữa thì người dân sẽ đặt câu hỏi về cái gói đó, không biết có đáng tin cậy, hay lại như cái gói hiện tại họ đang phải “trải nghiệm”.

Với những trường hợp đã được ngân hàng thương mại cam kết cho vay và được giải ngân một phần mà từ sau 1-6 được giải ngân tiếp thì phải chịu lãi suất cao, việc này có phải đã đưa người dân vào thế bí không, thưa ông?

Đứng từ phía người dân thì đúng là như thế. Dưới con mắt của người dân, họ bị đặt vào một cái bẫy mà họ tưởng được hưởng lãi suất ưu đãi 5% trong 15 năm và họ ký cái hợp đồng tín dụng đó.

Thế nhưng đối với các cơ quan quản lý như Ngân hàng Nhà nước thì họ nói là không, chúng tôi đã nói ngay từ trước đây 3 năm rồi là chúng tôi sẽ ngưng cái gói này và chúng tôi sẽ không tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại vào ngày 31-5 thì các ông bà phải hiểu được nếu chúng tôi không tái cấp vốn thì không có cái lãi suất ưu đãi đó nữa. Thành ra đối với cơ quan quản lý, họ cho rằng họ không đặt người dân vào tình trạng này vì họ đã báo động từ 3 năm trước rồi. Nhưng với người dân thì họ không được giải thích điều đó, không ai cố vấn cho họ, và họ đang ở trong cái bẫy tín dụng, cái bẫy lãi suất.

Khi Chính phủ thông qua gói 30 nghìn tỷ, mục tiêu lớn nhất là an sinh xã hội, giúp người thu nhập thấp cải thiện chỗ ở, giúp giải quyết các vấn đề của thị trường bất động sản và thúc đẩy nền kinh tế. Trong trường hợp này, ông có cho rằng đã không đúng mục tiêu của gói tín dụng này đề ra?

Đúng là gói này mục tiêu giúp người có thu nhập thấp mua nhà ở xã hội, sau đó mở rộng ra cho mua cả nhà ở thương mại.

Mục đích là giúp người nghèo, thu nhập thấp có chỗ ở. Với mục đích đó, nếu bây giờ mà thay đổi lãi suất, người nghèo phải trả lãi suất cao thì đúng là nó đi ngược lại với mục tiêu ban đầu. Mục đích thứ 2 của gói 30 nghìn tỷ là giúp hâm nóng lại thị trường bất động sản, nhưng hiện tại thông tin từ 1- 6 phải chịu lãi suất cao đang có 1 tác động mạnh vào tâm lý của quần chúng như thế này, những người đang mua và sẽ mua với lãi suất thương mại thì một số sẽ ngừng việc mua, từ đó sẽ tác động đến thị trường bất động sản. Trong khi đó, thời gian qua, những đối tượng mua nhà này có đóng góp rất nhiều cho thị trường.

Theo các quy định của ngành ngân hàng, với những hợp đồng đã ký, người dân có thể dừng lại không vay nữa được không, thưa ông?

Có thể được, tùy theo từng hợp đồng tín dụng. Có hợp đồng cho phép 2 bên hủy hợp đồng mà không bị lãi sàn. Nhưng có hợp đồng bắt buộc 2 bên phải thực hiện đến cuối. Nếu hủy ngang có thể bị phạt, hoặc thưa kiện. Tuy vậy, trên nguyên tắc vay tiền mua nhà thì hợp đồng phải được thực hiện, trừ trường hợp 2 bên đồng ý hủy hợp đồng này, và thêm một điều nữa có hợp đồng cho phép người dân trả trước nhưng không phải hợp đồng nào cũng cho phép thế. Nói chung là người dân có thể hủy ngang được nhưng phải có sự đồng ý của ngân hàng. Nếu tự ý hủy ngang có thể bị phạt hoặc phải thực hiện một biện pháp, chế tài nào đó đã được quy định trong hợp đồng.

Nếu như thế, trong trường hợp ngân hàng không đồng ý hủy hợp đồng thì có phải là quá khó khăn cho những người đã trót ký hợp đồng vay vốn bởi đa số đều là những người thu nhập trung bình, thu nhập thấp?

Đúng là như thế. Nếu người dân hủy hợp đồng tín dụng mà không có sự đồng ý của ngân hàng, tức là 2 bên đi vào một tranh chấp, lúc đó người dân phải xem lại cái điều khoản về lãi suất. Trong trường hợp lãi suất có thể điều chỉnh theo quy định của hợp đồng tín dụng đó, người dân nếu phá hủy, bỏ ngang hợp đồng thì người dân phải đền bù cho ngân hàng. Thành ra người dân phải xem lại xem hợp đồng tín dụng nói gì về điều khoản lãi suất. Lãi suất cố định hay có thể điều chỉnh.

Một trong những lý do khiến gói tín dụng này giải ngân chậm là thời gian qua quá ít những dự án nhà ở đáp ứng được yêu cầu gói 30 nghìn tỷ hoàn thành đưa vào sử dụng. Đây là lý do khách quan nhưng lại khiến người dân chịu thiệt?

Cho đến thời điểm hiện tại, gói tín dụng này mới được cam kết khoảng 90%, giải ngân mới được gần 60%. 40% còn lại chưa được giải ngân, rõ ràng còn rất nhiều tiền chưa được giải ngân. Đây cũng chính là một vấn đề. Thứ nhất, nếu thị trường có nguồn cung dồi dào để người dân có thể lựa chọn ngay từ năm đầu tiên, thì năm thứ 2 gói này sẽ được triển khai mạnh mẽ và năm thứ 3 nước rút thì sẽ đạt hiệu quả cao.

Thế nhưng, năm đầu lại rất lình xình, chỉ đạt có vài phần trăm vì thị trường thiếu sản phẩm phù hợp với túi tiền người Việt Nam. Chính vì thế mà giờ tận 40% chưa được giải ngân. Ai là người chịu trách nhiệm cho việc này. Tất nhiên không thể là phía ngân hàng. Bởi đây là vấn đề của thị trường.

Nhưng phải kể đến ở đây là Bộ Xây dựng, đáng lý ra phải nhìn vấn đề này xuyên suốt hơn từ đầu để hiểu nguồn cung như thế nào để có cơ sở đưa ra gói này. Thành ra đưa ra gói này mà chưa có sự chuẩn bị kỹ lưỡng khiến người dân phải chịu thiệt thì đây là trách nhiệm của những nhà quản lý. Nhưng có vấn đề cũng cần phải được nói đến ở đây là khi Ngân hàng Nhà nước đưa ra gói 30 nghìn tỷ này tức là đã có sự dự trù. Chắc chắn lúc đó, Ngân hàng Nhà nước đã dự trù gói này sẽ được sử dụng 100% và họ cũng đã sử dụng nguồn vốn để tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại.

Thành ra nếu đã dự trù vốn, với lãi suất ưu đãi mà bây giờ người dân mới dùng có 60% thì nên để người dân dùng tiếp. Trừ trường hợp Ngân hàng Nhà nước đưa gói này ra mà không thực sự có nguồn vốn 30 nghìn tỷ sẵn có để mà tài trợ. Đây cũng là điểm quan trọng mà nhiều người đang thắc mắc.

Theo ý ông, câu hỏi đặt ra là phải chăng gói tín dụng này đưa ra chỉ mang tính chất giải quyết bài toán tâm lý cho dân, cho thị trường bất động sản lúc đó?

Chính xác! Mà thực sự chưa chắc Ngân hàng Nhà nước đã có nguồn vốn như thế để tài trợ, thành ra bây giờ phải làm như thế này để giải quyết vấn đề của chính Ngân hàng Nhà nước, và đã đưa rất nhiều người vào tình trạng khó khăn.

Theo ông, vì mục đích an sinh xã hội như mục tiêu ban đầu của gói 30 nghìn tỷ được đưa ra, theo ông phải sửa thế nào?

Đầu tiên, theo đề xuất của tôi là lãi suất ưu đãi phải được sử dụng cho hết thời gian hợp đồng tín dụng nếu hợp đồng tín dụng đó quy định lãi suất ưu đãi 5% trong 15 năm. Thứ 2, với 40% còn lại chưa được giải ngân thì tất cả những khoản giải ngân sau ngày 31-5 cũng tiếp tục được hưởng lãi suất ưu đãi. Thành ra để chuyện này hợp lý, tất cả các ngân hàng thương mại phải tuân thủ hợp đồng tín dụng, tức là giải ngân với lãi suất ưu đãi.

Nếu Ngân hàng Nhà nước có những thay đổi thì phải do các ngân hàng thương mại chịu trách nhiệm. Người dân ký hợp đồng với các ngân hàng thương mại và họ không có liên quan gì đến Ngân hàng Nhà nước, họ cũng không thể biết được tái cấp vốn như thế nào. Việc đó là giữa Ngân hàng Nhà nước và ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại đã ký hợp đồng tín dụng đó thì người dân có quyền bắt ngân hàng thương mại phải thi hành.

 

MÃ CK

NGÀY GDKHQ

TỈ LỆ

GIÁ TC

 

GIÁ KHÓP

THAY ĐỔI

BTU

14/03/2016

5%

10.5

 

10.5 (0)

0%

CZC

14/03/2016

12%

12.3

 

12.3 (0)

0%

HHS

14/03/2016

20/1

10.2

 

10.5 (0.3)

2.9%

PJC

14/03/2016

12%

18.9

 

18.9 (0)

0%

QST

14/03/2016

12%

7.1

 

7.1 (0)

0%

ABI

15/03/2016

12%

13.7

 

13.7 (0)

0%

CAP

15/03/2016

20%

56.5

 

56.7 (0.2)

0.4%

BBC

16/03/2016

12%

70.5

 

71 (0.5)

0.7%

HKB

16/03/2016

100/8

19.1

 

18.8 (-0.3)

-1.6%

HKB

16/03/2016

2/3
Giá 10,000

19.1

 

18.8 (-0.3)

-1.6%

Thanh khoản vọt tăng lên mức cao. Tổng khối lượng giao dịch toàn sàn đạt 6.601.249 đơn vị, tương ứng với giá trị giao dịch là 64,7 tỷ đồng.

Số mã xanh điểm lấn lướt trên bảng điện tử. Thống kê tại thời điểm đóng cửa, toàn sàn có 106 mã tham gia giao dịch, trong đó có tới 50 mã tăng giá, 17 mã đứng giá và có 39 mã giảm giá.

Giao dịch tích cực, UPCoM-Index ghi điểm ngay khi thị trường mở cửa. Lực cầu nhanh chóng chiếm thế áp đảo giúp chỉ số đi lên chắc chắn, rung lắc không đáng kể.

Đà tăng chỉ thật sự mạnh khi thị trường bước vào phiên giao dịch buổi chiều. Có tới hai lần UPCoM đã tiến sát mức 52,3 điểm. Chỉ số đóng cửa ở mức điểm gần như cao nhất trong ngày.

Nỗ lực ghi điểm, VNP trở thành cổ phiếu có mức tăng mạnh nhất sàn, tăng trần 700 đồng (tương đương 14,89%), giá đóng cửa lên mức 5.400 đồng/cổ phiếu, khối lượng khớp lệnh thành công ấn tượng, đạt 90.000 đơn vị.

Chiều ngược lại, cùng giảm hết biên độ 15%, GER và VTI là hai cổ phiếu có mức giảm mạnh nhất. Trong đó: GER giảm sàn 1.200 đồng, giá đóng cửa lùi xuống còn 6.800 đồng/cổ phiếu, khối lượng khớp lệnh thành công đạt 100 đơn vị; VTI giảm sàn 1.200 đồng, giá đóng cửa lùi xuống còn 6.800 đồng/cổ phiếu, khối lượng khớp lệnh thành công khá cao, đạt 5.000 đơn vị.

AVF vươn lên dẫn đầu về thanh khoản toàn sàn với 1.332.810 cổ phiếu được chuyển nhượng thành công. PFL đứng thứ hai, đạt 1.192.390 cổ phiếu. Các vị trí kế tiếp lần lượt thuộc về là SWC đạt 623.920 cổ phiếu, MSR đạt 479.570 cổ phiếu, GEX đạt 379.100 cổ phiếu...

Phiên này, các nhà đầu tư nước ngoài đã thực hiện mua vào 35.900 cổ phiếu VGG, 1.100 cổ phiếu BTW, 700 cổ phiếu PJS, 100 cổ phiếu MTH . Đồng thời, họ bán ra 20.000 cổ phiếu VNP, 13.300 cổ phiếu PPG, 12.000 cổ phiếu MSR; BTW, NBW, SAS và VIN mỗi mã cùng bán 100 cổ phiếu.

 

Doanh nghiệp xuất khẩu mở thị trường mới: Không dễ ,Đề xuất giảm mạnh thuế tiêu thụ đặc biệt ô tô dưới 9 chỗ ,Giá vàng đầu tuần đi xuống ,Mỹ lo tăng giá, Việt Nam sợ thiếu nguyên liệu cá tra ,Ngành nhựa trước nguy cơ “Thái hóa” ,Giá thép tăng mạnh ,Cao su rục rịch tăng trở lại.

 

 Trong nhiệm vụ về cải cách thủ tục hành chính, Bộ Tài chính sẽ tập trung rà soát và đề xuất các phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính trong tất cả các lĩnh vực quản lý của Bộ, trong đó tập trung vào các thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực Thuế, Hải quan theo Nghị quyết 19/NQ-CP của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; đồng thời, tiếp tục nghiên cứu kiến nghị đơn giản hóa các thủ tục hành chính liên quan đến giấy tờ công dân theo Đề án đơn giản hóa các thủ tục hành chính liên quan đến giấy tờ công dân và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Bên cạnh đó, toàn Ngành cũng sẽ kiểm soát chặt chẽ hơn nữa các thủ tục hành chính mới ban hành; thực hiện đánh giá tác động, ban hành các Quyết định công bố thủ tục hành chính; tổ chức kiểm tra việc thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính tại các đơn vị thuộc và trực thuộc; tập trung rà soát chuẩn hóa và kịp thời công bố, công khai thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền quản lý.

Trong cải cách tài chính công, năm 2016, Bộ Tài chính tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính trong quản lý ngân sách, công khai ngân sách, đảm bảo chủ động trong điều hành, ngân sách Trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương đã thực hiện có dự phòng ngân sách và tăng dự trữ tài chính.

Đồng thời tiếp tục triển khai thực hiện các chiến lược trung hạn, dài hạn trên các lĩnh vực tài chính như: Chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước, Chiến lược kế toán - kiểm toán, Chiến lược cải cách Thuế, Chiến lược phát triển Hải quan, Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia, Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán, Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm, Chiến lược phát triển dự trữ quốc gia,...

Một nhiệm vụ quan trọng của ngành Tài chính năm 2016 là xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Trong đó chú trọng tổ chức triển khai công tác tuyển dụng cán bộ, công chức, công tác quy hoạch, luân chuyển, luân phiên, chuyển đổi vị trí công tác, điều động, bổ nhiệm cán bộ, công tác đánh giá, xếp loại, công chức, viên chức theo hướng thực chất, hiệu quả; đẩy mạnh triển khai công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, đặc biệt quan tâm đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chuyên gia, cán bộ cấp cơ sở và thực hiện đúng lộ trình phát triển các cơ sở đào tạo; thực hiện nghiêm công tác luân phiên, luân chuyển định kỳ chuyển đổi vị trí công tác cán bộ.

Nguồn : Báo Điện tử Chính phủ
 

 Xu hướng ngắn hạn đang dần cải thiện (CTCK Sài Gòn Hà Nội - SHS)

Với phiên bật tăng kỹ thuật ngày 12/1, kịch bản áp lực giảm dần chậm lại và thị trường sẽ hình thành đáy ngắn hạn tại vùng hỗ trợ của VN-Index hình thành từ tháng 9/2015 tương ứng 555 – 557 điểm đang trở nên rõ ràng hơn.

Xu hướng ngắn hạn do vậy được kỳ vọng sẽ dần có sự cải thiện, tuy nhiên, trên quan điểm thận trọng, nhà đầu tư nên tiếp tục theo dõi thêm diễn biến thị trường trước khi cân nhắc cơ hội giải ngân trở lại.

Vẫn còn các phiên điều chỉnh quanh ngưỡng 555 – 560 (CTCK Maritime – MSI)

Lực cầu tăng mạnh cuối phiên đã giúp thị trường tăng mạnh hơn 6 điểm, đóng cửa ở mức cao nhất phiên, tuy nhiên, thanh khoản vẫn chưa thực sự được cải thiện. Kết thúc phiên 12/1, VN-Index hình thành mẫu hình nến Bullish Engulfing. Trong phiên 13/1, thị trường có thể sẽ tiếp tục tăng điểm. Tuy nhiên, đà tăng còn chưa vững chắc, dòng tiền vẫn còn yếu, vì vậy nhiều khả năng thị trường sẽ còn các phiên điều chỉnh quanh ngưỡng 555 – 560 điểm.

Nhà đầu tư trading T+ nên tạm thời đứng ngoài thị trường quan sát diễn biến trong những phiên tới trước khi tiếp tục giải ngân. Nhà đầu tư trung và dài hạn có thể tiến hành mua gom trong những phiên giảm điểm.

Hạ bớt tỷ trọng cổ phiếu (CTCK FPT - FPTS) 

Sự chủ động mua và mua mạnh tại mức giá cao hơn so với 02 phiên liền trước là một hiện tượng đáng chú ý. Kết thúc phiên, độ rộng của sự hồi phục là khá tốt, tuy nhiên, các điểm nhấn quan trọng có khả năng dẫn dắt sóng hồi như nhóm bất động sản và ngân hàng còn khá yếu. Nhìn chung phiên 12/1 là một phiên thành công của bên mua khi đã trở lại vị thế kiểm soát xu hướng nhưng sự bền vững chưa được thiết lập.

Khuyến nghị hạ bớt tỷ trọng cổ phiếu về trạng thái thấp hơn tiền mặt tiếp tục được duy trì, chờ thời điểm chỉ số xác lập điểm mua phù hợp. Tiếp tục mua mới và mở rộng danh mục trong các phiên thị trường tăng điểm không kèm thanh khoản tích cực được cảnh báo là hết sức rủi ro và cần được kiểm soát chặt chẽ, tránh bị chi phối bởi tâm lý bắt đáy ngắn hạn.

Đà hồi phục sẽ phân hóa mạnh hơn (CTCK Bảo Việt - BVSC)

Thị trường vẫn đang ở vùng giá hấp dẫn để tích lũy cổ phiếu. Mặc dù vậy, đà hồi phục có thể sẽ phân hóa mạnh hơn trong các phiên sắp tới phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp trên sàn. Nhà đầu tư nên lựa chọn mua vào đối với mã cổ phiếu đang giao dịch ở vùng giá thấp với kết quả kinh doanh quý IV khả quan.

Khó có thể tiến xa trong ngắn hạn (CTCP Chứng khoán KIS Việt Nam - KIS)  

VN-Index có phiên phục hồi kỹ thuật sau những phiên giảm vừa qua và ghi nhận mức tăng theo ngày mạnh nhất kể từ đầu năm. Bên cạnh được hỗ trợ bởi yếu tố tỷ giá, định giá hấp dẫn hơn là nhân tố thúc đẩy nhà đầu tư mua vào. Đáng chú ý, áp lực bán giải chấp tạm thời lắng dịu trong 2 phiên vừa qua cũng giúp làm giảm hoạt động bán tháo.

Dù vậy, khi các rủi ro của thị trường thế giới vẫn còn hiện hữu, các thị trường khó có thể tiến xa trong ngắn hạn. Trong vài phiên tới, VN-Index có thể test vùng 570-571. Nếu không có thêm nhân tố hỗ trợ mới, đây vẫn là vùng kháng cự mạnh.

Nguồn : Tin nhanh chứng khoán
 

 NHNN Chi nhánh TP.HCM mới đây thông báo, trong năm 2016, chương trình kết nối NH – DN sẽ gắn kết với các chương trình, chính sách ưu đãi của UBND TP.HCM. Trong đó, đặc biệt hỗ trợ chuyên sâu vào nhóm DN thuộc Chương trình kích cầu đầu tư của địa phương như: DN thuộc lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ (CNHT) và DN sản xuất sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, nhằm hướng nguồn vốn cho vay của NHTM vào các ngành, lĩnh vực mà TP.HCM quan tâm, ưu tiên phát triển.

Linh hoạt theo địa phương

Thực tế cho thấy thời gian gần đây, chính sách ưu đãi cho khối DN CNHT được chính quyền TP.HCM quan tâm nhiều hơn so với các lĩnh vực khác. Trong Kế hoạch phát triển CNHT giai đoạn 2016-2020, địa phương đã đưa ra những ưu đãi khá cụ thể đối với 4 nhóm ngành CNHT là: cơ khí – điện tử - công nghệ thông tin; hóa chất – nhựa – cao su; chế biến lương - thực phẩm và dệt may – da giày.

Theo đó, từ năm 2016, các DN thuộc 4 nhóm lĩnh vực này sẽ được ngân sách địa phương cấp bù 50-100% lãi suất vay vốn đầu tư từ các NHTM. Nếu DN nào chủ động chuyển đổi từ sản xuất gia công sang tự chủ về thiết kế thương hiệu còn được hưởng thêm các chính sách ưu đãi lãi suất 100% khi vay vốn triển khai các dự án thiết kế sản phẩm mới.

Đáng chú ý là sau 4 năm, ngành NH triển khai Chương trình kết nối NH – DN, chính quyền TP.HCM đã nhận thấy sự tăng trưởng mạnh của nguồn vốn tín dụng từ chương trình này, với tổng dư nợ lên tới 240.700 tỷ đồng cho vay đối với trên 9.200 DN. Vì thế bắt đầu từ năm nay, địa phương sẽ kết hợp chương trình kết nối NH – DN với các chính sách ưu đãi riêng biệt của thành phố.

Theo đó, TP.HCM sẽ dành ngân sách khoảng 1.000 tỷ đồng để hỗ trợ cấp bù lãi suất cho các DN CNHT khi vay vốn từ Chương trình kết nối NH – DN. Như vậy, các DN CNHT không những được hưởng lãi suất thấp (ngắn hạn tối đa 7%/năm, trung, dài hạn tối đa 8-10%/năm) mà sau khi dự án hoàn thành còn được ngân sách địa phương hỗ trợ một phần hoặc toàn phần số lãi vay.

Nếu việc kết hợp này được thực hiện suôn sẻ, dự kiến ngay trong năm 2016, trong số hơn 211.500 tỷ đồng và 15 triệu USD đã được các NHTM cam kết giải ngân cho Chương trình kết nối NH – DN sẽ có một tỷ lệ lớn được cho vay vào khối DN CNHT, giúp nhóm DN này bứt phá mạnh mẽ trong hoạt động đầu tư.

Tự thay đổi để đón vốn

Quan sát trong thời gian 4-5 năm qua, có thể thấy đây không phải là lần đầu tiên TP.HCM tiến hành kết hợp các chính sách, chương trình ưu đãi đặc thù của địa phương với các chương trình tín dụng của ngành NH.

Thực tế từ năm 2011, với việc dùng ngân sách địa phương để cấp bù 50-100% lãi suất vay vốn từ các NHTM, Chương trình hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp đô thị của TP.HCM đã được thực hiện khá thành công với sự phối hợp chặt chẽ của các NHTM. Chỉ tính đến giữa năm 2015, dù ngân sách thành phố chỉ mới giải ngân nguồn hỗ trợ lãi suất được khoảng 250 tỷ đồng, nhưng các NHTM trên địa bàn đã cho vay được gần 4.000 tỷ đồng đối với các DN và hộ nông dân.

Điều này có nghĩa rằng, 1 đồng vốn ngân sách hỗ trợ lãi vay đã huy động được 16 đồng vốn vay từ các NHTM và hiệu quả kết hợp các chính sách ưu đãi của địa phương với các chương trình tín dụng trọng điểm của ngành NH là rất đáng ghi nhận.

Trở lại với nhóm DN CNHT, ngoài những chính sách ưu đãi kết hợp giữa NH với chính quyền địa phương như trình bày ở trên, thời gian tới cánh cửa vay vốn cho khối DN CNHT tại TP.HCM nói riêng và cả nước nói chung sẽ tiếp tục được mở rộng. Vì trong khoảng 1-2 tháng tới đây, NHNN sẽ ban hành Thông tư hướng dẫn chính sách tín dụng phát triển CNHT theo Quyết định 111/2015 của Thủ tướng Chính phủ.

Khi Thông tư này được ban hành các DN CNHT không những được vay vốn với lãi suất ưu đãi (tối đa bằng mức lãi suất ngắn hạn từng thời kỳ) mà còn được xem xét cho vay tới 70% vốn đầu tư. Đối với các dự án thuộc danh mục sản phẩm CNHT được ưu tiên phát triển thậm chí còn được các TCTD bảo lãnh vay vốn đầu tư nếu chứng minh được không có các khoản nợ đọng tiền thuế và nợ xấu tại các NHTM.

Như vậy, đến thời điểm hiện nay, hầu như các chính sách ưu đãi tín dụng đều đang hướng rất mạnh vào khối DN CNHT. Vấn đề còn lại là khả năng vay được vốn trên thực tế như thế nào? Điều này phụ thuộc gần như hoàn toàn vào khả năng đổi mới và thích ứng của các DN CNHT hiện hữu.

Bởi tính đến thời điểm hiện nay, mặc dù cả nước có tới gần 600 ngàn DNNVV (trong đó một tỷ lệ lớn hoạt động trong lĩnh vực CNHT) nhưng đa số các DN nhóm này đều có nguồn lực tài chính hạn chế. Trong khi đó, khoảng 75% máy móc, thiết bị và công nghệ đều đã lỗi thời, cần thay đổi.

Ngoài ra, các DNNVV cũng chưa chú trọng phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao và hoàn thiện hệ thống kế toán – tài chính do vậy các phương án sản xuất kinh doanh chưa thuyết phục được các TCTD khi thẩm định để cho vay vốn đầu tư.

Để gia tăng khả năng tiếp cận vốn vay, chính vì thế bản thân các DNNVV cần có chiến lược đầu tư dài hạn cho hoạt động tái cấu trúc, tranh thủ các hỗ trợ tài chính để đổi mới công nghệ, đổi mới phương pháp quản trị. Từ đó mới có cơ sở để phát triển các dự án sản xuất – kinh doanh mang tính khả thi cao, hấp dẫn được sự đầu tư từ các TCTD và phát huy hiệu quả nguồn vốn vay cũng như nguồn hỗ trợ từ ngân sách.

Theo UBND TP.HCM đến thời điểm hiện nay đã có khoảng 85 dự án CNHT của các DN được triển khai bằng nguồn vốn vay hỗ trợ cấp bù lãi suất theo Chương trình kích cầu đầu tư của địa phương. Tổng số vốn vay được ngân sách hỗ trợ lãi suất đạt hơn 3.200 tỷ đồng. Hiện có hơn 4.500 DN trên địa bàn TP.HCM tiếp cận được NH với vốn vay hợp lý, trong đó lãi suất vay trung - dài hạn ở mức 8,5-9,5%/năm, ngắn hạn từ 6,6-6,8%/năm.

 

Nguồn : thoibaonganhang.vn
 

 Trao đổi thông tin với các cơ quan báo chí ngày 12/1, Thứ trưởng Bộ Công Thương - ông Đỗ Thắng Hải cho biết, cái được nhất của cơ quan điều hành giá xăng dầu năm 2015 là đã đảm bảo tính công khai minh bạch. Giá xăng dầu đã dần theo sát giá thị trường, mua đắt bán đắt, mua rẻ bán rẻ.

Theo Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải, trong năm 2015 đã có 18 lần điều chỉnh tăng, giảm giá xăng dầu với 12 lần giảm và 6 lần tăng cùng một số lần xăng dầu giữ giá. Điều quan trọng nhất là trước đây việc điều chỉnh giá xăng dầu thường rơi vào những thời điểm “nhạy cảm” như 3h đêm hay 5h chiều, nhưng hiện nay cứ theo đúng lịch vào 15h, sau 15 ngày là điều chỉnh giá.

Thứ trưởng cũng cho biết, đối với việc sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu xưa nay vốn được dùng làm công cụ cân đối, dùng trong trường hợp giá xăng dầu tăng quá mạnh, nhưng rồi sẽ có lúc Quỹ này cũng phải bỏ. Đồng thời hiện nay, công thức tính giá xăng dầu đã có sẵn, do đó trong tương lai, cơ quan điều hành sẽ tính tới việc điều chỉnh giá xăng dầu hàng ngày, không cần phải đợi đến chu kỳ 15 ngày như hiện nay.

“Tuy nhiên, việc điều này còn phụ thuộc vào các doanh nghiệp trong nước và khâu hậu kiểm của các cơ quan chức năng có đảm bảo để vận hành thị trường như vậy được hay không?”, Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải cho biết.

Theo dự báo, giá dầu thô năm 2016 không có biến động bất thường mà sẽ ổn định ở xu hướng giảm, quanh ngưỡng 25 - 45 USD/thùng. Các chuyên gia kinh tế cho rằng, đây thực sự là cơ hội cho việc quản lý thị trường xăng dầu Việt Nam theo hướng mở, thay vì điều hành và chi phối thị trường thông qua Quỹ Bình ổn giá xăng dầu như trước nay.

Chuyên gia kinh tế, TS. Lê Đăng Doanh cho rằng, với một quốc gia đang nhập khẩu tới 70% nguồn xăng dầu thành phẩm từ nước ngoài, Việt Nam nên mạnh dạn mở cửa hoàn toàn mặt hàng này để đảm bảo tính thị trường của hàng hóa.

“Cần xem xét lại Quỹ Bình ổn giá xăng dầu còn phù hợp đến mức độ nào, nếu cần cho việc dự phòng trong tương lai thì thời gian đó là bao lâu? Sự cần thiết của Quỹ Bình ổn giá xăng dầu nên được lý giải như thế nào và nên được vận dụng như thế nào cho thích hợp. Nếu cứ vận dụng Quỹ theo cách cũ để đề phòng giá xăng dầu tăng mạnh và lấy quỹ đó giảm đi có lẽ là không còn thích hợp nữa”, TS Lê Đăng Doanh cho biết.

Đồng tình với quan điểm thu thêm Quỹ Bình ổn giá trong bối cảnh giá dầu giảm mạnh và dự báo sẽ tiếp tục giảm sâu là không còn phù hợp, TS. Nguyễn Minh Phong khuyến nghị, cơ quan quản lý nhà nước cần tính toán lại để đưa giá xăng dầu sát hơn với giá thế giới. Về lâu dài, để đảm bảo mặt hàng xăng dầu được vận hành theo đúng quy luật của thị trường, nên xây dựng Quỹ An ninh năng lượng quốc gia thay vì tiếp tục tồn tại quỹ bình ổn giá xăng dầu như hiện nay.

“Quỹ An ninh năng lượng quốc gia sẽ dự trữ nguồn xăng dầu 15 ngày của các cơ quan năng lượng, nếu cần thì có thể lấy quỹ đó làm nguồn ban đầu để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và mua trữ xăng dầu ít nhất 15-20 ngày. Còn lại các doanh nghiệp phải tự dự trữ theo yêu cầu của thị trường. Các doanh nghiệp nhà nước cũng như doanh nghiệp tư nhân tự do cạnh tranh, nhà nước thu thuế, từ đó sẽ không còn ai phải bù lỗ, người dân không còn kêu ca giá xăng dầu lên nhanh xuống chậm như hiện nay”, TS. Nguyễn Minh Phong đề xuất.

Trong năm 2015, giá xăng dầu giảm khá nhiều lần song vẫn có ý kiên cho rằng chưa phản ánh đúng với giá xăng dầu trên thị trường thế giới. Trong khi đó, với cách thức điều hành, giám sát các tác động của giá xăng dầu trên thị trường còn khá lỏng lẻo nên hiệu ứng lan tỏa từ giá dầu giảm chưa cao.

PGS. TS. Bùi Xuân Hồi (Trường Đại học Bách khoa Hà Nội) cho rằng, để diễn biến giá xăng dầu trong nước phản ánh đúng quy luật và mức độ tăng giảm của thị trường thế giới phụ thuộc rất nhiều vào quan điểm quản lý của nhà nước trong điều hành giá xăng dầu.

“Nếu nhà nước khuyến khích tiêu dùng, thậm chí chấp nhận câu chuyện thả nổi giá xăng dầu theo giá quốc tế, để nếu giá dầu lên 110 USD/thùng và người dân sẽ trả với giá 35.000/lít xăng thì đương nhiên mức điều chỉnh nhỏ giọt như hiện nay là không phù hợp. Vấn đề quan trọng là các cơ cấu trong biểu giá cuối cùng luôn phải minh bạch, rõ ràng, điều chỉnh tăng hay giảm phải nêu rõ quan điểm và cơ sở điều chỉnh, khi đó sẽ tránh được các ý kiến trái chiều nhau liên quan đến điều chỉnh giá xăng trong mối quan hệ với biến động giá trên thị trường quốc tế”, PGS. TS. Bùi Xuân Hồi chỉ rõ.

Nguồn : vov.vn